BÀI VĂN TRIỆU THỈNH DIỆM KHẨU

https://phapsu.vn

BÀI VĂN TRIỆU THỈNH DIỆM KHẨU

BÀI VĂN TRIỆU THỈNH DIỆM KHẨU

BÀI VĂN TRIỆU THỈNH DIỆM KHẨU 《Văn Triệu Thỉnh Diệm Khẩu》 là bài văn được tụng trong Pháp hội "Du Già Diệm Khẩu" của Phật môn khi bố thí thức ăn cho ngạ quỷ. Các đối tượng được triệu thỉnh trong văn bao gồm: vua chúa các triều trước, anh hùng tướng soái, văn thần tể phụ, văn nhân cử tử, người xuất gia mặc áo nâu (tăng sĩ), đạo sĩ cửa huyền, khách lữ thứ tha hương, binh sĩ tử trận, người chết vì thai sản nơi huyết hồ, kẻ ngu si ngỗ nghịch, nữ nhân phận liễu yếu đào tơ, người chết oan chết thảm... Tất cả đều được triệu thỉnh đến trong pháp hội bố thí này để thọ nhận "Cam Lồ Pháp Thực", thể hiện tinh thần "vô duyên đại từ, đồng thể đại bi" của Phật giáo, cứu độ bình đẳng khắp lục đạo. Bài Văn Triệu Thỉnh do Tô Thức soạn, từ ngữ tinh giản, ưu mỹ, ý cảnh thâm uyên, trong một thiên văn ngắn ngủi đã nói lên hết những nuối tiếc của nhân gian, cũng như diễn tả chi tiết nỗi khổ chìm đắm trong "ngũ trược thế gian". Chỉ nhờ vào sự gia trì của Phật lực, siêu độ lần lượt cho họ, mới có thể khiến họ thoát khỏi "bể khổ", được an ổn thường lạc. ☸️《Kinh Kim Cương》viết: "Nhất thiết hữu vi pháp, như mộng huyễn bào ảnh, như lộ diệc như điện, ưng tác như thị quán." (Hết thảy pháp hữu vi, như mộng, huyễn, bọt, bóng, như sương, như chớp, nên khởi quán sát như vậy). ☸️《Phẩm Phương Tiện - Kinh Duy Ma Cật》viết: "Thị thân như mộng, vi hư vọng kiến." (Thân này như mộng, là sự thấy biết hư vọng). 《Kinh Đại Bát Nhã》viết: "Như nhân mộng trung thuyết mộng, sở kiến chủng chủng tự tánh..." (Như người trong mộng nói về giấc mộng, thấy các thứ tự tánh...). Tự tánh của cảnh mộng đều không thật có. Tất cả hiện tượng trong "đại thiên thế giới" đều do "nhân duyên" hòa hợp mà sinh, duyên sinh thì thành, duyên tận thì tan. Đời người cũng như vậy, thế nhưng vẫn có nhiều người say ngủ trong giấc mộng êm đềm, không muốn tỉnh thức. Một bài 《Văn Triệu Thỉnh Diệm Khẩu》 đã nói hết sự "vô thường" của nhân sinh, bày tỏ hết nỗi cay đắng của thế tình. "Việc đời một giấc mộng lớn, nhân sinh mấy độ thu tàn". Kỳ thực, là do người ta chìm đắm trong giấc mộng quá sâu, không nỡ tỉnh giấc mà thôi. 👑I. BẬC CHÍ TÔN CỬU NGŨ, KHÓ BẢO TOÀN NHÂN SINH KHỎI HỐI TIẾC👻 Văn viết: "Các triều đế chủ, Trải mấy hầu vương. Chín tầng điện gác ngự ngôi cao, Muôn dặm non sông riêng chấp chính. Thuyền chiến phương Tây tới, khí vương ngàn năm chợt tàn; Xa giá phương Bắc đi, oán than năm nước chưa dứt. Than ôi! Đỗ quyên kêu rụng dưới trăng đào, Máu thấm đầu cành, hận xiết bao!" Mấy câu triệu thỉnh này của Tô Thức miêu tả sự vô thường của ngôi vương và sự tàn khốc đẫm máu của chiến tranh giành quyền. Nhìn lại lịch sử Trung Quốc, sự thay triều đổi đại của đế vương, sự đổi thay của chư hầu, trong đó đều chứa đầy sát khí. Có kẻ vì đoạt ngôi vương mà không từ thủ đoạn, làm những chuyện diệt tuyệt nhân tính như con giết cha, anh giết em. Việc Ngụy vương Tào Thời Thời Ngụy ngược đãi em trai là Tào Thực là một ví dụ. Có những trường hợp tuy không phải tranh giành ngôi vương giữa thân tộc, nhưng cuộc tranh quyền với các chư hầu khác cũng tàn khốc không kém. Cuộc chiến Ngô-Việt thời Xuân Thu là minh chứng rõ ràng. Sự đời biến hóa vô thường, dù một người đã có được địa vị đế vương, cũng khó bảo đảm ngôi vị được lâu dài. Quá trình từ quốc chủ trở thành tù nhân của Nam Đường Hậu Chủ Lý Dụ đã phản ánh quy luật này. Trong lịch sử Trung Quốc, không biết bao nhiêu vị đế vương như Lý Hậu Chủ, mối hận mất ngôi, mất nước của họ chỉ đến khi chết mới thôi. Vì vậy, Tô Thức kết thúc bài triệu thỉnh bằng câu: "Đỗ quyên kêu rụng dưới trăng đào, Máu thấm đầu cành, hận xiết bao!" 🎖️II. BÁI TƯỚNG PHONG HẦU, CHỈ LÀ VINH QUANG NHẤT THỜI👻 Văn viết: "Dựng đàn bái tướng, Cầm tiết phong hầu. Sức dời vạc nặng ngàn quân, Thân làm tường thành vạn dặm. Sương lạnh trướng beo, uổng công ngựa nhuốm mồ hôi; Gió yên khói lửa, luống phụ chí vươn tới rồng. Than ôi! Ngựa chiến, tướng quân nay ở đâu? Đầy đất cỏ hoa nhuốm vẻ sầu." Xưa nay, những tướng soái có công lao bảo vệ đất nước, đa phần đều được vinh dự "dựng đàn bái tướng, cầm tiết phong hầu". Những vị tướng soái xông pha trận mạc này, với tài năng quân sự kiệt xuất, "trù hoạch trong màn trướng, quyết thắng ngoài ngàn dặm", giành được thắng lợi quyết định trong chiến tranh. Nhưng trong lịch sử, không phải vị tướng nào cũng may mắn như vậy. Có người không những không thắng trận, mà còn bị hạ sát giữa chiến trường, hoặc bị thuộc hạ ám hại, hoặc do chỉ huy bất tài, hoặc bị phản bội mà "chí chưa thành, thân đã mất". Chỉ lấy 《Tam Quốc Diễn Nghĩa》 làm ví dụ, Trương Phi - người đã cùng Lưu Bị kết nghĩa vườn đào - sau khi Lưu Bị nắm quyền, trở thành mãnh tướng tâm phúc, nổi tiếng với sự uy dũng thiện chiến, một mình trên cầu Trường Bản hét lui vài chục vạn quân Tào. Thế nhưng, vị tướng quân từng trải sa trường này cuối cùng lại vì ngược đãi binh sĩ, say rượu bị hai tên thuộc hạ là Phạm Cương, Trương Đạt giết chết. Quan Vũ, cùng là một trong "Ngũ Hổ Tướng" của nước Thục, khi thủ Kinh Châu, không may bị Lã Mông dùng kế bắt sống, rồi bị Tôn Quyền nước Đông Ngô giết chết. Điều khiến Quan Vũ phẫn hận hơn là, lúc ông thất thế, những tướng sĩ đáng lẽ có thể nương tựa lại phản bội, đầu hàng Đông Ngô, khiến ông đành phải "tháo chạy Mạch Thành". Lại có Mã Tốc, người được Gia Cát Lượng rất trọng dụng, trong trận Nhai Đình vì chỉ huy sai lầm dẫn đến toàn quân thua to, gây tổn thất lớn cho cuộc Bắc phạt của Gia Cát Lượng. Để nghiêm minh quân kỷ, Gia Cát Lượng đành phải rơi lệ chém đầu Mã Tốc. Những dũng tướng này dù hết lòng, nhưng cũng khó lòng xoay chuyển cục diện thất bại, thậm chí bất hạnh hy sinh nơi sa trường. Vì vậy, nhà thơ đời Đường Vương Hàn trong 《Lương Châu Từ》 đã viết: "Rượu nho chén ngọc, muốn cạn say/ Khúc tỳ bà vang giục ngựa rong/ Nằm khểnh sa trường chớ cười nhé/ Xưa nay mấy kẻ được về không?" Dù không chết nơi sa trường, sau khi phò tá quân vương đoạt được giang sơn, cũng khó lòng "cùng hưởng phú quý". Câu "Thỏ khôn chết, chó săn bị nấu; nước địch mất, mưu thần phải chết" nói lên đạo lý này. Những người cùng nhau đánh giặc, dựng nước có thể cùng nhau chịu khổ, nhưng lại không thể cùng hưởng phú quý, đó là lệ thường từ xưa. Việc Triệu Khuông Dận "chén rượu giải binh quyền" là điển hình minh chứng. Vì vậy, Tô Thức đã thốt lên lời cảm thán: "Ngựa chiến, tướng quân nay ở đâu? Đầy đất cỏ hoa nhuốm vẻ sầu." 🎓III. KẺ SĨ HỌC RỘNG, THƯỜNG GẶP CẢNH KHÔNG ĐƯỢC TRỌNG DỤNG👻 Văn viết: "Tài tử nho môn, Thư sinh nhà cỏ. Bước thám hoa khắp rừng văn, Mình dự kỳ thi nơi viện gai. Đèn đom đóm tắt, ba năm uổng phí công phu; Nghiên sắt mòn trơ, mười năm luống khổ nhọc. Than ôi! Bảy thước lụa hồng ghi tên họ, Một nắm đất vàng lấp văn chương." Từ xưa, thông qua con đường đọc sách để bước vào quan trường là mục tiêu tối hậu mà nhiều người thuộc tầng lớp trung lưu và hạ lưu phấn đấu. Vào thời kỳ mà chế độ khoa cử còn trong sáng, nhiều nho sinh thực tài có thể thông qua thi cử mà "bảng vàng đề danh, vẻ vang tổ tông". Nhưng vào thời kỳ chế độ khoa cử thối nát, đen tối, nhiều học trò có thực học bị bài xích, cả đời không được trọng dụng. Hai nhà văn học tài hoa bậc nhất đời Đường là Lý Bạch, Đỗ Phủ đều không thể thông qua khoa cử để bước lên quan trường. Lý Bạch chỉ vì tài hoa mà được Đường Huyền Tông vời vào cung, nhưng chỉ vỏn vẹn ba tháng đã vì cậy tài ngông cuồng mà bị đuổi khỏi cung; Đỗ Phủ cũng phải sống nhờ, làm nhiều năm chức quan nhỏ, bổng lộc của ông thậm chí không đủ duy trì sinh kế cho cả gia đình. Đối với những văn nhân lận đận bên ngoài trường thi, dù họ tài hoa xuất chúng, "nghiên sắt mòn trơ", dù họ "canh ba đèn sách, canh năm gà gáy" chăm chỉ đọc sách, cũng khó lòng có ngày "bảng vàng đề danh". Khiến cho nhiều văn nhân cả đời u uất bất đắc chí, chỉ biết dùng thơ văn để công kích tệ đoan của chế độ khoa cử. Tô Thức cho rằng, một kẻ sĩ đọc nhiều sách, dù con đường quan lộ có thuận buồm xuôi gió hay thất bại thảm hại, rốt cuộc thì kho văn chương đầy bụng của người ấy cũng sẽ theo sự kết thúc của sinh mạng mà bị "nắm đất vàng" vùi lấp. Đối với điều này, nếu có thể xem nhẹ một chút, tự nhiên sẽ bớt đi một phần ưu sầu và phiền não. 💼IV. NHÀ BUÔN LỚN, NHÂN SINH KHÓ THUẬN BUỒM XUÔI GIÓ👻 Văn viết: "Giang hồ khách lữ, Nam bắc kinh thương. Mưu tài muôn dặm rong chơi, Tích hóa ngàn vàng buôn bán. Sóng gió khôn lường, thân vùi trong bụng cá; Đường xa khó ngờ, mệnh tan nơi dốc hiểm. Than ôi! Hồn lạc phương bắc theo mây ám, Khách phương đông đuổi nước trôi xuôi." Thương nhân là người trung gian thúc đẩy lưu thông hàng hóa giữa các vùng miền. Vì lợi nhuận, họ đi nam về bắc, tích trữ hàng hóa, đầu cơ để kiếm lời nhiều hơn. Đối với những thương nhân này, vì tiền tài, họ bỏ vợ rời con, đi xa quê hương. Họ hy vọng kinh doanh có lãi, sau này có thể "áo gấm về làng". Kinh doanh xa nhà, người giỏi buôn bán có thể kiếm được "vạn quan gia tài"; người không giỏi buôn bán có thể mất vốn, thất bại, uổng công vất vả. Tô Thức cho rằng, những thương nhân đi xa, đôi khi tuy có thể kiếm được chút tiền của, nhưng vì đường xá hiểm trở, có thể gặp phải "sóng gió khôn lường, thân vùi trong bụng cá" trên sông biển; có người có thể gặp phải cướp tấn công trên đường, "mệnh tan nơi dốc hiểm". Tóm lại, một thương nhân rời nhà đi buôn, dù có kiếm được lợi nhuận hay không, đều có thể gặp nguy hiểm nơi đất khách quê người, thậm chí vĩnh viễn không thể đoàn tụ với gia đình. Vì vậy, Tô Thức trong 《Văn Triệu Thỉnh》 đã bi thán: "Hồn lạc phương bắc theo mây ám, Khách phương đông đuổi nước trôi xuôi." ⚔️V. TƯỚNG SĨ BIÊN THÙY, DÙNG SINH MẠNG BẢO VỆ TỔ QUỐC👻 Văn viết: "Nhung y chiến sĩ, Lâm trận kiện nhi. Bóng hồng kỳ tranh hùng, Rừng bạch nhẫn liều mạng. Trống chiêng vừa dóng, phút giây ruột phá tan hoang; Được thua mới phân, khắp chốn đầu rơi tay gãy. Than ôi! Bãi cát vàng mờ nghe quỷ khóc, Đồi xương trắng xóa ít người thu." Chiến tranh xưa nay vốn tàn khốc vô tình, đao thương không bao giờ biết phân biệt. Trong chiến tranh, việc một số lớn binh sĩ tử trận là điều khó tránh khỏi. Đặc biệt là bên thua trận, đôi khi có thể "toàn quân bị tiêu diệt". Trong chiến tranh cổ đại, "đánh trống xuất binh, gõ chiêng thu quân" là quy tắc tác chiến. Hai quân giao chiến, sẽ có sự phấn đấu "lâm trận kiện nhi, bóng hồng kỳ tranh hùng, rừng bạch nhẫn liều mạng". Vào thời khắc cao trào của trận đánh, đao thương giáo kích tung hoành ngang dọc, người không kịp tránh sẽ "ruột phá tan hoang, đầu rơi tay gãy", thành ma dưới lưỡi đao. Sự tàn khốc của chiến tranh không thể đối đãi bằng nhẫn nhục hay khoan dung. Vì vậy, trong lịch sử đã có bài học đau thương khi Tào Tháo trong trận Xích Bích gần như toàn quân bị tiêu diệt. Đến nỗi cuối cùng Tào Tháo dẫn tàn quân bại tướng "tháo chạy Hoa Dung đạo", nếu không phải Quan Vũ nghĩ tới tình cũ mà tha cho một mạng, có lẽ Tào Tháo đã bỏ mạng nơi Hoa Dung đạo. Đáng thương nhất là hài cốt của hàng chục vạn binh sĩ của Tào Tháo chết chìm trong nước lửa, thậm chí không có người đến thu nhặt. Đối với sự tàn khốc của chiến tranh và số người thương vong đông đảo, nhà thơ nổi tiếng về biên tái đời Đường là Cao Thích trong bài 《Yên Ca Hành》 đã miêu tả sinh động. Thơ viết: "Trước trận, binh sĩ nửa sống nửa chết/ Trong trướng, giai nhân vẫn ca vũ nhạc... Áo giáp xa xứ vất vả đã lâu/ Lệ roi sau biệt ly nên sầu thảm/ Thiếu phụ nam thành đứt ruột nhớ thương/ Người chinh phu bắc Yên ngoảnh đầu trông/ Biên thùy mù mịt làm sao vượt qua/ Nơi đất lạ mênh mông còn có gì?/ Sát khí ba canh hóa mây trận/ Tiếng quân khuya lạnh lẽo vang rền/ Cùng nhìn lưỡi bạc máu phun tóe/ Chết vì tiết nghĩa, há màng công?/ Chẳng thấy sa trường khổ cùng cực/ Đến nay còn nhớ tướng quân Lý!" Bài thơ cùng với Văn Triệu Thỉnh của Tô Thức hô ứng nhau, không chỉ viết ra sự thương vong trầm trọng của chiến tranh, mà còn nói lên nỗi bi thương của sự ly biệt khiến người ta rơi lệ. Tô Thức cảm nhận sâu sắc sự tàn khốc của chiến tranh, đã thốt lên lời ai oán: "Bãi cát vàng mờ nghe quỷ khóc, Đồi xương trắng xóa ít người thu." 🤰VI. NGƯỜI MẸ VĨ ĐẠI, MANG THAI MƯỜI THÁNG CÁT HUNG KHÓ LƯỜNG👻 Văn viết: "Mang thai mười tháng, Sinh nở ba ngày. Ban đầu vui loan phụng hòa duyên, Kế mong ứng mộng gấu vượn. Sắp ca chúc tụng, cát hung trong chốc lát; Trai gái chưa phân, mẹ con về trường dạ. Than ôi! Hoa đương nở lúc gặp mưa rào, Trăng sắp tròn then phủ mây đen." Ở nước ta có câu tục ngữ "thai nghén mười tháng, sinh nở một giờ", người ta thường dùng câu này để ví von quá trình làm nên một việc là gian nan lâu dài, thành công chỉ trong khoảnh khắc. Câu này cho ta bài học là, không chỉ nên thấy niềm vui thành công, mà càng nên thấy sự vất vả phía sau thành công. Đối với người phụ nữ bình thường mang thai sinh con, "thai nghén mười tháng" cũng vất vả, bạn phải chịu đựng sự khó chịu về mọi mặt của cơ thể, nhưng đồng thời bạn cũng hạnh phúc, bởi bạn đang ấp ủ hy vọng và ước mơ. Nhưng thực tế thường là họa phúc khôn lường, khi bạn còn đang lập kế hoạch cho tương lai, có lẽ bạn sẽ đột nhiên gặp bất trắc. Trong cuộc sống hàng ngày, thiên tai nhân họa bất cứ lúc nào cũng có thể cướp đi sinh mạng của một sản phụ, dù không như vậy, có sản phụ khi sinh nở cũng xảy ra bi kịch "thai chết lưu, mẹ con cùng mất". Sinh mạng con người rất mong manh, đặc biệt là đối với những sản phụ và thai nhi trong thời kỳ mang thai và sinh nở. Dù chúng ta cẩn thận đến đâu, thì bất hạnh "hoa đương nở lúc gặp mưa rào, trăng sắp tròn then phủ mây đen" vẫn thường xảy ra. 💄VII. HỒNG NHAN BẠC MỆNH, SẮC ĐẸP NHƯ HOA QUỲNH THOÁNG NỞ👻 Văn viết: "Cung vi mỹ nữ, Khuê các giai nhân. Mặt phấn hồng tranh tươi, Áo xạ long đua thơm. Mây tan mưa tạnh, hồn tiêu vườn Kim Cốc; Trăng khuyết hoa tàn, ruột đứt trạm Mã Nguy. Than ôi! Ngày trước phong lưu đâu chẳng thấy, Cỏ thơm dương biếc lạnh đầu lâu." "Từ xưa hồng nhan đa phần mệnh bạc", điểm lại Tứ Đại Mỹ Nhân thời cổ Trung Quốc, họ tuy có nhan sắc "chim sa cá lặn, hoa nhường nguyệt thẹn", nhưng cuối cùng lại trở thành vật hy sinh cho cuộc đấu tranh chính trị. Họ không được hưởng cuộc sống bình thường mà một người phụ nữ bình thường đáng được hưởng. Trung Quốc từ xưa vốn coi trọng "trai tài gái sắc", vì vậy, những người phụ nữ có nhan sắc, đa tình thường được các "giai nhân tài tử" ưa thích. Bởi thế, trong lịch sử đã có nhiều vị hoàng đế vì mê đắm nữ sắc mà bỏ bê triều chính, cuối cùng dẫn đến kết cục mất nước, mất mạng. Đường Huyền Tông là một điển hình tiêu biểu, ông vì say đắm sắc đẹp của Dương Quý Phi, không lo việc triều đình, sau này trong loạn An Sử vội vã mang theo Dương Quý Phi chạy trốn. Khi quân đội đến trạm Mã Nguy, binh sĩ không chịu tiến quân, yêu cầu Huyền Tông ban chết Dương Ngọc Hoàn, Huyền Tông buộc phải treo cổ Dương Quý Phi. Nhà thơ đời Đường Lý Thương Ẩn từng làm bài 《Mã Nguy》 chế giễu Đường Huyền Tông với tư cách là một quốc vương mà lại không thể bảo vệ tính mạng của hoàng hậu. Thơ viết: "Ngoài biển nghe đồn còn chín châu/ Kiếp sau chưa biết, kiếp này thôi!/ Chỉ nghe tiếng quân canh đêm vắng/ Không thấy người gà báo sớm mai/ Ngày ấy sáu quân cùng dừng ngựa/ Đêm xưa bảy tháng cười Ngưu Lang/ Sao bốn mươi năm làm thiên tử/ Lại không bằng nhà họ Lữ có Mạc Sầu!" Câu "bảy tháng cười Ngưu Lang" trong thơ ý nói: Đêm thất tịch, trên điện Trường Sinh, Đường Huyền Tông và Dương Quý Phi từng cười đùa thề ước bên nhau, và cười Ngưu Lang Chức Nữ mỗi năm chỉ gặp nhau một lần quá ngắn ngủi; lúc đó từng "cười" người khác, mà nay lại không bằng tình yêu lâu dài của Ngưu Lang Chức Nữ; so sánh như vậy, thật đáng thương mà cũng đáng cười. Tô Thức trong đoạn triệu thỉnh này nói rằng những giai nhân nơi khuê các tranh nhau khoe sắc kia, có lẽ lúc trẻ có thể giành được sự yêu thích của các trang nam tử phong lưu, nhưng một khi "tuổi già sắc tàn", sẽ bị người ta ruồng bỏ. Dù không như vậy, hoặc vì sắc đẹp gây ra họa hoạn, mang đến tai ương cho bản thân, hoặc như những kẻ "Dương Quý Phi", "ruột đứt trạm Mã Nguy". Người đẹp phong lưu ngày trước, trong chốc lát đã trở thành một đống xương khô. 😵‍💫😵‍💫VIII. KẺ ĂN MÀY, NGƯỜI TÙ TỘI, CHỊU NỖI KHỔ THÂN TÂM VÔ TRỢ👻 Văn viết: "Đói rét kẻ ăn mày, Hình ngục người tù tội. Gặp nước lửa thương thân, Gặp cọp sói mất mạng. Treo cổ uống độc, ngàn năm oán khí trầm luân; Sét đánh vách đổ, một mảnh hồn kinh phiêu diệt. Than ôi! Mưa chiều khói xanh quạ kêu lạnh, Gió thu lá vàng quạ bay đầy." Đối với kẻ ăn mày và tù nhân, phần lớn trong số họ sống cuộc đời "sớm còn tối mất". Họ không có điều kiện vật chất phong phú và vốn liếng để khoe khoang như giai nhân nơi khuê các hay đế vương tướng soái. Dù sinh mạng của họ không được người khác coi trọng, nhưng với tư cách là một con người, họ đều có quyền được sống, sinh mạng của họ cũng nên được người khác tôn trọng. Tuy nhiên, so với các tầng lớp khác, sinh mạng của họ dường như càng không được bảo đảm. Đừng nói đến "gặp nước lửa thương thân, gặp cọp sói mất mạng", cũng đừng nói đến "treo cổ uống độc, ngàn năm oán khí trầm luân; sét đánh vách đổ, một mảnh hồn kinh phiêu diệt". Chỉ riêng hoàn cảnh khốn khó của họ, nhiều lúc họ có thể chết nơi đầu đường vì những điều kiện sinh tồn cơ bản như "đói rét" không được đảm bảo. Cảnh ngộ thê lương của họ đúng như Tô Thức miêu tả: "Mưa chiều khói xanh quạ kêu lạnh, Gió thu lá vàng quạ bay đầy." 《Văn Triệu Thỉnh Diệm Khẩu》của Tô Thức lần lượt lấy những con người với thân phận khác nhau làm ví dụ, để miêu tả sự "khổ, không, vô thường" của tuổi trẻ và sinh mạng. Là một phần của 《Diệm Khẩu》, 《Văn Triệu Thỉnh》 tuy dùng để siêu độ những vong hồn này thọ nhận "Cam Lồ Pháp Thực", nhờ đó được siêu thăng, nhưng giá trị văn học và triết lý nhân sinh trong đó rất đáng để chúng ta nghiền ngẫm. Từ sự luận thuật về "vô thường" của nhiều loại hình nhân sinh, không chỉ có thể khiến người ta buông bỏ "công danh lợi lộc", nhìn thấu sự hư ảo của "tài sắc", mà còn có thể giúp người ta giữ được tâm thái "không vì vật mừng, không vì mình buồn", từ đó có thể dùng "tâm thường" để đối đãi với nhân sinh Thầy Bùi Quang Tuấn